Tra theo từ điển:




Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Phim_Dong_Phong_Nha1.flv Phim__Nhat_Ban__Thien_nhien_nhieu_thu_thach2.flv Phim__O_nhiem_moi_truong_bien.flv Phim__O_nhiem_moi_truong1.flv Phim__Gioi_thieu_ve_Nguyen_Trai.flv Lang_KHAI_DINH__Hue_Phim_tu_lieu.flv Lang_TU_DUC__Hue_Phim_tu_lieu.flv Thang_Long_lich_su.swf

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của Trường THCS Tô Múa - Huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Các nhà khoa học >

    ALFRED NOBEL

     

    Trên thế giới hiện nay có loại giải thưởng danh tiếng nhất: Giải Thưởng Nobel. Ông Alfred Nobel đã đặt ra các giải thưởng này để khuyến khích mọi người mang lại Hòa Bình và Hạnh Phúc cho Nhân Loại. Trong đời ông, ông Nobel đã từng bị dày vò vì sự tàn phá của chất nổ dùng không đúng cách và nhiều lần hối hận về các phát minh của mình.

      Alfred Nobel là con thứ ba trong bốn người con của ông Emmanuel Nobel. Alfred ra đời vào ngày 21 tháng 8 năm 1833 tại Stockholm, nước Thụy Điển. Ngay từ thuở nhỏ, Alfred được mẹ chăm sóc từng bước vì thể chất mỏng manh. Cha của Alfred là một kỹ sư tài giỏi, đã truyền lại cho con trí thông minh, tính cần cù và lòng quả cảm.

                Năm Alfred chào đời cũng là năm ông Emmanuel bị phá sản, gia đình Nobel thường phải dọn nhà nhiều lần vì không có khả năng trả tiền thuê nhà. Mấy năm sau, khi ông Emmanuel đang thí nghiệm về vài hóa chất kỳ lạ thì một tiếng nổ lớn phát ra, khiến cho các cửa sổ của căn nhà kế bên bị vỡ tung. Gia đình Nobel vì vậy được lệnh phải rời khỏi thành phố Stockholm. Trong khi ông Emmanuel đang lo sợ bị các chủ nợ đưa ra tòa thì một thám tử người Nga tới gặp ông. Nhân viên này nghe đồn ông Emmanuel đã làm ra được một thứ thủy lôi nên mời nhà phát minh tới Saint Petersburg để trình bày trước Sa Hoàng Nicholas I. Ông Emmanuel liền mang sáng chế của mình sang nước Nga. Sau cuộc biểu diễn, chính quyền Nga bằng lòng xuất tiền cho ông lập ra một cơ xưởng tại Saint Petersburg nhưng với điều kiện các phát minh đều thuộc về nước Nga.

                Ông Emmanuel tới nước Nga khi Alfred mới lên 4 tuổi. Trái với các anh em trong nhà, Alfred rất yếu đuối. Cậu bị yếu xương sống, lại mắc thêm chứng nhức đầu và đau dạ dày. Năm lên 8 tuổi, Alfred theo học tại một trường tư ở Stockholm trong một năm rồi ông Emmanuel cho người về đón cả nhà dọn sang nước Nga. Tại thành phố Saint Petersburg, ông Emmanuel đã thuê thầy giáo dạy các con tại nhà về các môn văn chương, sinh ngữ và toán học. Trong số các con, ông thương yêu Ludwig vì cho rằng người con thứ hai này thông minh nhất.

                Khi Alfred 16 tuổi, ông Emmanuel nghe nói một người đồng hương với ông là John Ericsson đã di cư sang New York và đã thành công về một thứ động cơ nhiệt. Thêm vào đấy, danh tiếng của Ericsson về chiếc tầu thủy Monitor đã khiến cho ông Emmanuel quyết định gửi một đứa con qua Hoa Kỳ theo học về động cơ dùng cho tầu biển. Vì không thể sống xa Ludwig, ông Emmanuel đã cho Alfred đi học cơ khí tại xưởng máy của Ericsson. Nhưng Alfred đã không sống tại New York được lâu bởi vì bản tính hay gắt gỏng và lệch lạc của ông Ericsson trong khi Alfred lại là con người kém kiên nhẫn.

                Sau khi làm xong tờ báo cáo về chiếc động cơ mà cha đã quan tâm, Alfred trở về Pháp. Tại thành phố Paris, Alfred đã yêu tha thiết một thiếu nữ nhưng cô này chết yểu. Quá chán nản, Alfred quay về cơ xưởng của cha để làm việc cho quên tất cả nỗi buồn phiền.

                Khi gần 20 tuổi, Alfred Nobel đã nói và viết được nhiều thứ tiếng: Pháp, Anh, Nga rồi mấy năm sau, lại thông thạo thêm các tiếng Đức và Ý. Do thể chất còn yếu đuối, Alfred phải nằm hàng giờ mà đọc sách nhưng chính nhờ thế mà cậu xuất sắc hơn các bạn. Chính tại nước Nga hồi 20 tuổi, Alfred Nobel đã bị ám ảnh bởi một thứ chất nổ ghê gớm. Một hôm, trước một số sinh viên trong phòng thí nghiệm của Đại Học Đường Saint Petersburg, Giáo Sư Sinin để một chất hơi đặc, không màu lên trên một cái đe rồi lấy búa đập: một tiếng nổ phát ra. Đập vào chỗ khác lại có tiếng nổ khác và Giáo Sư chứng tỏ rằng tiếng nổ sinh ra tại nơi đập. Giáo Sư Sinin bảo các sinh viên:"chất nổ trông giống như dầu sà lát này tên gọi là Nitroglycérine. Vào năm 1846, Giáo Sư Ascanio Sobrero người Ý, đã phát minh ra nó nhưng ông ta bỏ dở công trình vì xét ra quá nguy hiểm".

                Cuộc chiến tranh giữa các nước Nga và Anh Pháp bùng nổ. Alfred cùng ba anh em là Robert, Ludwig và Emil giúp cha trong việc chế tạo máy móc và khí giới. Xưởng cơ khí của ông Emmanuel vào thời kỳ này rất phát đạt, hàng ngàn thợ làm việc quần quật ngày đêm mà không sản xuất đủ khí giới tung ra các mặt trận. Alfred say mê nghề nghiệp, không lúc nào rời cơ xưởng. Chàng thường ăn và ngủ ngay tại nơi làm việc. Trận chiến tranh Crimea (1853-56) đã đến lúc kịch liệt rồi pháo đài Sebastopol đang bị công phá càng làm tăng thêm số đơn đặt mua võ khí. Khi tấn công hải cảng Kronstadt, hạm đội Anh đã đụng phải thủ lôi của ông Nobel và đành phải rút lui. Các sáng kiến của ông Emmanuel đã khiến cho ông được Sa Hoàng gắn huy chương và lại được trao tặng một chiếc đồng hồ vàng. Gia đình Nobel vì vậy càng thêm giàu có, sang trọng.

    Alfred Nobel đã làm rất nhiều thí nghiệm với chất nitroglycerine. Ông  đổ chất này vào ống thủy tinh rồi đậy nút, cho vào một ống thiếc đựng thuốc súng, châm lửa rồi quăng vào nước. Một tiếng nổ lớn phát ra, làm bắn vọt nước lên cao chứng tỏ rằng nitroglycerine và thuốc súng đã nổ. Ông làm lại thí nghiệm rất nhiều lần, với các chất pha trộn khác nhau rồi nghĩ ra cách làm hạt nổ bằng fulminat thủy ngân. Ngày nay, phát minh này vẫn còn là căn bản cho việc dùng nitroglycerine và dynamite.

    Vào tháng 8 năm 1863, Alfred Nobel được giấy phép chế tạo chất nổ bằng thuốc súng theo phương pháp mới song lúc nào ông cũng lưu tâm đến việc làm nổ nitroglycerine nguyên chất. Không lúc nào ông ngừng thí nghiệm. Ông chinh phục dần dần được chất nổ này. Việc sản xuất chất nổ gia tăng đã mang lại cho ông các mối lợi lớn. Thụy Điển và Phần Lan là hai nước đầu tiên dùng chất nổ của Alfred Nobel để khai phá hầm mỏ. Các nước Anh và Pháp gửi giấy mời nhà phát minh sang biểu diễn còn các chủ nhân của những hầm mỏ tại nước Bỉ và xứ Bohême gửi rất nhiều đơn đặt mua chất nổ.

    Một sự bất ngờ đã xẩy ra: tại miền bắc của nước Đức có một thứ đất sét tên gọi là Kieselguhr. Tình cờ một hôm, một người thợ của Nobel lấy chất đất sét này để kê các bình đựng nitroglycerine và cũng do tình cờ, một trong các bình đó bị vỡ, để dầu chảy ra ngoài. Alfred Nobel nhận thấy thứ đất này hút nitroglycerine như giấy thấm hút mực vậy. Ông bèn nghĩ đến việc trộn thứ đất sét này với dầu nổ: cứ ba thể tích dầu nổ thì một thể tích đất sét. Quả nhiên, sau khi trộn xong, nhiệt độ và sự xô mạnh không làm cho hỗn hợp phát nổ. Chất mới này mềm dẻo như mastic, có thể đóng thành thỏi mà gửi đi không nguy hiểm.

                Như vậy trong tháng 12 năm 1867, Alfred Nobel đã đánh dấu một ngày lịch sử trong việc chế tạo chất nổ. Ông đã cẩn thận làm lại hàng trăm thí nghiệm khác nhau trước khi tung chất nổ mới này ra thương trường. Ông đặt tên cho chất mới này bằng hai danh hiệu: "Dynamite", danh hiệu chỉ sức mạnh, và "chất nổ không nguy hiểm của Nobel".

                Sự thành công của chất nổ mới tăng lên như sóng cồn. Alfred Nobel phái người anh là Robert sang Mỹ biểu diễn còn chính mình tự sang nước Anh là quốc gia kỹ nghệ hầm mỏ. Danh tiếng của Nobel vang lừng. Trong vòng 10 năm, 15 xưởng chế tạo rải rác khắp châu Âu và châu Mỹ đã sản xuất hàng năm hơn 3,000 tấn chất nổ Dynamite. Ông Nobel không ngừng đi từ xưởng này sang xưởng khác nên người ta gọi ông là "người lang thang giàu có nhất châu Âu".

                Vào năm 1875, Alfred Nobel thiết lập văn phòng trung ương tại thành phố Paris và mua biệt thự số 53 đại lộ Malakoff. Ông vẫn không ngừng làm việc 14 giờ một ngày nhưng cũng có lúc thảnh thơi, đọc sách và viết truyện. Ông vẫn chú tâm đến việc hòa thuốc súng bông với nitroglycerine. Một hôm bị đứt tay, ông Nobel liền để chất collodion trên vết thương. Vết đau dịu hẳn về ban đêm. Sáng hôm sau, khi làm thí nghiệm với nitroglycerine, thì cả hai chất đó sinh ra một cảm giác lạnh. Nhờ việc bất thường này, Alfred Nobel đã thấy được thứ mà mình phải tìm kiếm bấy lâu.

              Một sự bất ngờ đã xẩy ra: tại miền bắc của nước Đức có một thứ đất sét tên gọi là Kieselguhr. Tình cờ một hôm, một người thợ của Nobel lấy chất đất sét này để kê các bình đựng nitroglycerine và cũng do tình cờ, một trong các bình đó bị vỡ, để dầu chảy ra ngoài. Alfred Nobel nhận thấy thứ đất này hút nitroglycerine như giấy thấm hút mực vậy. Ông bèn nghĩ đến việc trộn thứ đất sét này với dầu nổ: cứ ba thể tích dầu nổ thì một thể tích đất sét. Quả nhiên, sau khi trộn xong, nhiệt độ và sự xô mạnh không làm cho hỗn hợp phát nổ. Chất mới này mềm dẻo như mastic, có thể đóng thành thỏi mà gửi đi không nguy hiểm.

                Như vậy trong tháng 12 năm 1867, Alfred Nobel đã đánh dấu một ngày lịch sử trong việc chế tạo chất nổ. Ông đã cẩn thận làm lại hàng trăm thí nghiệm khác nhau trước khi tung chất nổ mới này ra thương trường. Ông đặt tên cho chất mới này bằng hai danh hiệu: "Dynamite", danh hiệu chỉ sức mạnh, và "chất nổ không nguy hiểm của Nobel".

                Sự thành công của chất nổ mới tăng lên như sóng cồn. Alfred Nobel phái người anh là Robert sang Mỹ biểu diễn còn chính mình tự sang nước Anh là quốc gia kỹ nghệ hầm mỏ. Danh tiếng của Nobel vang lừng. Trong vòng 10 năm, 15 xưởng chế tạo rải rác khắp châu Âu và châu Mỹ đã sản xuất hàng năm hơn 3,000 tấn chất nổ Dynamite. Ông Nobel không ngừng đi từ xưởng này sang xưởng khác nên người ta gọi ông là "người lang thang giàu có nhất châu Âu".

                Vào năm 1875, Alfred Nobel thiết lập văn phòng trung ương tại thành phố Paris và mua biệt thự số 53 đại lộ Malakoff. Ông vẫn không ngừng làm việc 14 giờ một ngày nhưng cũng có lúc thảnh thơi, đọc sách và viết truyện. Ông vẫn chú tâm đến việc hòa thuốc súng bông với nitroglycerine. Một hôm bị đứt tay, ông Nobel liền để chất collodion trên vết thương. Vết đau dịu hẳn về ban đêm. Sáng hôm sau, khi làm thí nghiệm với nitroglycerine, thì cả hai chất đó sinh ra một cảm giác lạnh. Nhờ việc bất thường này, Alfred Nobel đã thấy được thứ mà mình phải tìm kiếm bấy lâu.

               Một sự bất ngờ đã xẩy ra: tại miền bắc của nước Đức có một thứ đất sét tên gọi là Kieselguhr. Tình cờ một hôm, một người thợ của Nobel lấy chất đất sét này để kê các bình đựng nitroglycerine và cũng do tình cờ, một trong các bình đó bị vỡ, để dầu chảy ra ngoài. Alfred Nobel nhận thấy thứ đất này hút nitroglycerine như giấy thấm hút mực vậy. Ông bèn nghĩ đến việc trộn thứ đất sét này với dầu nổ: cứ ba thể tích dầu nổ thì một thể tích đất sét. Quả nhiên, sau khi trộn xong, nhiệt độ và sự xô mạnh không làm cho hỗn hợp phát nổ. Chất mới này mềm dẻo như mastic, có thể đóng thành thỏi mà gửi đi không nguy hiểm.

                Như vậy trong tháng 12 năm 1867, Alfred Nobel đã đánh dấu một ngày lịch sử trong việc chế tạo chất nổ. Ông đã cẩn thận làm lại hàng trăm thí nghiệm khác nhau trước khi tung chất nổ mới này ra thương trường. Ông đặt tên cho chất mới này bằng hai danh hiệu: "Dynamite", danh hiệu chỉ sức mạnh, và "chất nổ không nguy hiểm của Nobel".

                Sự thành công của chất nổ mới tăng lên như sóng cồn. Alfred Nobel phái người anh là Robert sang Mỹ biểu diễn còn chính mình tự sang nước Anh là quốc gia kỹ nghệ hầm mỏ. Danh tiếng của Nobel vang lừng. Trong vòng 10 năm, 15 xưởng chế tạo rải rác khắp châu Âu và châu Mỹ đã sản xuất hàng năm hơn 3,000 tấn chất nổ Dynamite. Ông Nobel không ngừng đi từ xưởng này sang xưởng khác nên người ta gọi ông là "người lang thang giàu có nhất châu Âu".

                Vào năm 1875, Alfred Nobel thiết lập văn phòng trung ương tại thành phố Paris và mua biệt thự số 53 đại lộ Malakoff. Ông vẫn không ngừng làm việc 14 giờ một ngày nhưng cũng có lúc thảnh thơi, đọc sách và viết truyện. Ông vẫn chú tâm đến việc hòa thuốc súng bông với nitroglycerine. Một hôm bị đứt tay, ông Nobel liền để chất collodion trên vết thương. Vết đau dịu hẳn về ban đêm. Sáng hôm sau, khi làm thí nghiệm với nitroglycerine, thì cả hai chất đó sinh ra một cảm giác lạnh. Nhờ việc bất thường này, Alfred Nobel đã thấy được thứ mà mình phải tìm kiếm bấy lâu.

                            

                Như vậy trong tháng 12 năm 1867, Alfred Nobel đã đánh dấu một ngày lịch sử trong việc chế tạo chất nổ. Ông đã cẩn thận làm lại hàng trăm thí nghiệm khác nhau trước khi tung chất nổ mới này ra thương trường. Ông đặt tên cho chất mới này bằng hai danh hiệu: "Dynamite", danh hiệu chỉ sức mạnh, và "chất nổ không nguy hiểm của Nobel". 

    Tại San Remo, Nobel bỏ phần lớn thời giờ vào việc tìm cách chế tạo cao su và lụa nhân tạo. Bệnh tim của ông trở nên trầm trọng, nếu tĩnh dưỡng cẩn thận, ông Nobel chưa đến nỗi sớm lìa đời nhưng ông không thể sống mà không làm việc. Alfred Nobel thở hơi cuối cùng vào ngày 10 tháng 12 năm 1896, trong cảnh cô đơn, buồn bã, với tài sản để lại vào khoảng 9 triệu Mỹ kim. 

              Trước khi chết, Alfred Nobel đã sợ hãi các thứ khí giới mới. Ông Nobel đặt hy vọng vào một tổ chức quốc tế tương tự như Liên Hiệp Quốc ngày nay. Trên bàn giấy của ông, người ta tìm thấy lẫn lộn trong chồng giấy tờ khảo cứu về các chất hóa học mới, bản "chúc thư " liên quan đến việc trao giải thưởng.

                Làm tại Ecrin ngày 27 tháng 11 năm 1895, "chúc thư " đó đã ghi như sau: "Tất cả gia tài của tôi để lại sẽ dùng làm vốn lấy lời. Tiền lời này sẽ dùng làm phần thưởng cho những ai đã giúp ích cho Nhân Loại trong năm trước. Tiền lời sẽ được chia đều thành 5 phần, dùng làm các giải thưởng Vật Lý Học, Hóa Học, Y Học hay Sinh Lý Học, Văn Chương và sau cùng là giải thưởng cho những ai lo tài giảm binh bị, gây được tình thân hữu giữa các dân tộc và tổ chức được nền Hòa Bình Thế Giới. Giải thưởng Vật Lý và Hóa Học sẽ do Hàn Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển phát, Viện Karolinska tại Stockholm cho giải thưởng về Y Học hay Sinh Lý Học, Hàn Lâm Viện Stockholm sẽ phát giải thưởng về Văn Chương còn giải thưởng Hòa Bình do một hội đồng gồm 5 nhân viên của Nghị Viện Na Uy bầu lên".

                Alfred Nobel đã quy định rằng: "Các giải thưởng này sẽ được trao tặng cho những người xứng đáng mà không được để ý đến quốc tịch, người nào có công nhất sẽ được tặng thưởng dù họ sinh ra tại Thụy Điển hay không". 

                Vào ngày 10 tháng 12 năm 1901, 5 năm sau ngày ông Alfred Nobel qua đời, các giải thưởng đầu tiên được cấp phát và còn tiếp tục cho tới ngày nay 

                                                                                            Sưu tầm


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Công Bình @ 22:20 17/06/2011
    Số lượt xem: 280
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Tin tức từ Báo mới

    Thắng cảnh quê hương

    Góc hài hước